(TNC 4.4) Theo tính toán của Bộ GTVT, hàng thủy sản xuất khẩu, chi phí vận tải chiếm 51%, lưu kho chiếm 20%, xếp dỡ 23%, đóng gói 5%, cảng phí 1%; hàng may mặc xuất khẩu chi phí vận tải 61%, lưu kho 9%, xếp dỡ 19%, đóng gói 9% và cảng phí 2%; gạo xuất khẩu chi phí vận tải chiếm 58%, lưu kho chiếm 10%, xếp dỡ 24%, đóng gói 7% và cảng phí chiếm 1%; trái cây chi phí vận tải chiếm 61%, lưu kho 14%, xếp dỡ 20%, đóng gói 5% và cảng phí là 1%,… Một nghiên cứu của Bộ GTVT chỉ ra rằng, đang có nghịch lí trong cách chọn phương thức vận tải logistics ở Việt Nam. Theo đó, vận tải đường bộ đang trở thành lựa chọn hàng đầu đối với hoạt động vận tải nội địa, dù phương thức vận tải này chỉ phù hợp với cự ly ngắn, khối lượng thấp.

Chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) của Việt Nam hiện nay: 64/160, chi phí logistics của Việt Nam chiếm 20,9 % GDP. Theo Ngân hàng Thế giới (WB): Đây là con số ở mức trung bình so với các nước đang phát triển có mức GDP tương ứng, nhưng cao đối với các nước phát triển (từ 9% đến 15% GDP). Cụ thể, tỷ lệ này của Mỹ là 7,7%, Singapore 8%, EU 10%, Nhật 11%; tỷ trọng này cũng cao hơn các nước đang phát triển trong khu vực như Thái Lan (18%), Trung Quốc (19%).

Trích nguồn: baophapluat

Call Now ButtonGọi ngay để được tư vấn